Mọi người thường nói:
Vẻ đẹp không nằm ở đôi má hồng của người thiếu nữ mà ở trong mắt của kẻ si tình.
Câu nói này hay được sử dụng khi một người không thể tìm thấy lý do tại sao lại yêu một người khác, ở đây BS nghĩ "vẻ đẹp" có thể là nhan sắc, trí tuệ, tính cách hoặc nét riêng của người được nói đến. Có nhiều trường hợp thực tế như vậy, đôi khi ta không thể định nghĩa được vẻ đẹp bằng ngôn từ hay khái niệm.
Nhưng trong khoa học thẩm mỹ thì khác, người ta vẫn luôn đi tìm kiếm những thước đo để lượng giá, làm sao có thể giúp con người trở nên đẹp hơn. Một trong những điều đó chính là việc đưa ra những tỷ lệ đẹp của khuôn mặt. Vậy khuôn mặt như thế nào được coi là đẹp dưới góc nhìn thẩm mỹ?
Bài viết lần này khá dài, nên BS sẽ chia thành 2 phần: Phần 1 nói về đánh giá tổng thể, phần 2 sẽ đi chi tiết hơn về từng cấu trúc trên khuôn mặt. Nội dung chủ đề này có thể cung cấp góc nhìn để mọi người tham khảo trước khi cân nhắc hay quyết định can thiệt phẫu thuật hoặc tiêm tạo hình thẩm mỹ.
Trong quá trình làm việc BS cũng thường gặp những “khuôn mặt thẩm mỹ” - khuôn mặt lộ rõ đã can thiệp rất nhiều, nhưng vấn đề ở chỗ là nó thiếu hài hòa và tự nhiên. Việc làm quá và không hợp lý trong tạo hình tạo ra những khuôn mặt như vậy. Các bạn cũng có thể thấy xu hướng hiện tại là thẩm mỹ cá nhân hóa và tôn trọng sự tự nhiên, hài hòa. Đây là một chú ý quan trọng!
Vẻ đẹp thật ra là một khái niệm phức tạp và chủ quan chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm địa lý, văn hóa và nhân khẩu học. Mọi người trên khắp thế giới coi trọng sự đối xứng, hài hòa và cân bằng như những phẩm chất của vẻ đẹp và sự hấp dẫn; tuy nhiên, không có hai người nào từ các nền tảng dân tộc hoặc văn hóa khác nhau có thể có cùng mục tiêu thẩm mỹ hoặc nhận thức về cái đẹp.
Khi phẫu thuật thẩm mỹ ngày càng trở nên phổ biến và bệnh nhân từ các nền tảng dân tộc khác nhau tìm kiếm các biện pháp can thiệp để duy trì sự cân bằng và hài hòa của các đặc điểm tự nhiên của họ, các tiêu chuẩn về cái đẹp đã trở nên đa dạng hơn và thay đổi tùy theo các chuẩn mực văn hóa và dân tộc. Những khảo sát đối với những người từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hồng Kông và Hàn Quốc, các nước châu Âu, Châu Mỹ,.. cho thấy mỗi quốc gia có kỳ vọng và sở thích riêng về kết quả thẩm mỹ.
Khuôn mặt con người là một cấu trúc độc đáo và nói lên nhiều điều về một cá nhân, thậm chí còn nhiều hơn những gì cơ thể chỉ ra về sức hấp dẫn tổng thể. Đây là phần quan trọng nhất của ngoại hình tổng thể của một cá nhân. Sự hấp dẫn của khuôn mặt là chìa khóa quan trọng cho các tương tác xã hội và hành vi cá nhân. Nó cũng được biết là ảnh hưởng đáng kể đến lòng tự trọng của một cá nhân.
Sự hấp dẫn của khuôn mặt đóng một vai trò quan trọng ngay từ thời thơ ấu với nhiều các vấn đề; hoặc thậm chí là các lựa chọn liên quan đến vị trí công việc sau này. Ngày nay, mọi người tìm đến phương pháp can thiệp vì một trong hai lý do sau: Thẩm mỹ hoặc Chức năng; lý do trước phổ biến hơn lý do sau.
Mặc dù không có khuôn mặt hoàn hảo và sức hấp dẫn phụ thuộc vào người xem, nhưng một số đặc điểm và tỷ lệ nhất định trên khuôn mặt thường được chấp nhận là có liên quan chặt chẽ với các thuộc tính tích cực như sức hấp dẫn và vẻ ngoài khuôn mặt hài hòa tổng thể. Ví dụ, đường viền hàm được xác định rõ ràng có liên quan đến nam tính, sức hấp dẫn và sự đáng tin cậy.
Ngoài ra, tính đối xứng của khuôn mặt - cùng với các yếu tố khác - thường được báo cáo là đóng vai trò không thể thiếu đối với vẻ ngoài khuôn mặt hài hòa tổng thể.Dưới đây sẽ đề cập đến những tỷ lệ được chấp nhận rộng rãi liên quan đến vẻ đẹp của khuôn mặt. Khi càng đạt được những tỷ lệ này, khuôn mặt sẽ được đánh giá là đẹp.
Mặt phẳng tham chiếu
Để đánh giá mọi thứ chúng ta cần một mặt phẳng tham chiếu. Mặt phẳng ngang Frankfurt là mặt phẳng chuẩn hóa kết nối các đường ngang trải dài giữa điểm thấp nhất của vành dưới ổ mắt và điểm cao nhất của lỗ tai (còn gọi là ống tai). Mặt phẳng này được cho là song song với mặt đất và cho phép bác sĩ chụp ảnh bệnh nhân trước và sau can thiệp.
Hơn nữa, mặt phẳng này cũng có thể được sử dụng làm tham chiếu cho các phép đo nhân trắc học.
Sự đối xứng của khuôn mặt
Tính đối xứng của khuôn mặt đã có liên quan đến sự hấp dẫn và do đó là một trong những trụ cột chính trong nhận thức về thẩm mỹ khuôn mặt. Trong thực hành lâm sàng, BS nhận thấy tình trạng bất đối xứng khuôn mặt rất thường gặp. Do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân phổ biến hay gặp là tình trạng nhai lệch bên.
Nhiều trường hợp gây lệch nghiêm trọng cả về kích thước xương và cơ giữa 2 bên, gây ảnh hưởng nhiều đến tính thẩm mỹ của khuôn mặt. Tính đối xứng của khuôn mặt có thể được đánh giá một cách bán khách quan nhưng hiệu quả bằng cách sử dụng mặt phẳng theo đường giữa, cho phép so sánh cả hai nửa khuôn mặt. Một khuôn mặt đối xứng được xác định bằng khoảng cách bằng nhau của các thành phần khuôn mặt ở cả hai bên so với đường giữa.

Tỷ lệ khuôn mặt
Khuôn mặt có thể được chia theo chiều dọc thành ba phần ba. Phần ba trên được xác định giữa các ranh giới đường chân tóc và glabella (là vùng da giữa lông mày và phía trên mũi). Phần ba giữa được xác định giữa các ranh giới của glabella đến dưới mũi. Phần ba dưới được xác định giữa các ranh giới của dưới mũi đến điểm thấp nhất của cằm. Hơn nữa, khuôn mặt cũng có thể được chia theo chiều ngang, thành năm phần năm. Người ta đã mô tả rằng độ dài của phần ba theo chiều dọc và phần năm theo chiều ngang phải bằng nhau trên khuôn mặt tạo nên một tính thẩm mỹ hài hòa.
Ngoài ra, người ta còn báo cáo rằng tỷ lệ vàng (tức là 1,618) đóng vai trò là tỷ lệ hữu ích cho một khuôn mặt đẹp. Chiều dài khuôn mặt tức là khoảng cách giữa trichion (đường chân tóc) và menton (điểm thấp nhất của cằm) phải dài hơn 1,618 lần so với chiều rộng khuôn mặt (tức là khoảng cách giữa xương gò má ở cả hai bên).
Khoảng cách giữa trichion và điểm dưới của mũi lý tưởng nhất phải dài gấp 1,618 lần khoảng cách giữa điểm dưới lỗ mũi và điểm thấp nhất của cằm. Tỷ lệ vàng cũng có thể được áp dụng ở mặt dưới, trong đó khoảng cách giữa trung điểm của hai khóe mắt trong và điểm thấp nhất của môi trên (stomion) phải dài gấp 1,618 lần khoảng cách giữa stomion và điểm thấp nhất của cằm.
Chỉ số khuôn mặt
Khi phân tích toàn bộ khuôn mặt, các chỉ số khuôn mặt có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu được tỷ lệ và mối quan hệ của các thành phần khuôn mặt khác nhau và có ý nghĩa quan trọng để đánh giá một khuôn mặt đẹp. Đặc biệt hữu ích cho diện mạo khuôn mặt tổng thể là chỉ số khuôn mặt và chỉ số khuôn mặt hàm dưới .
Chỉ số khuôn mặt (còn gọi là chỉ số prosopic ) được định nghĩa là tỷ lệ giữa chiều cao khuôn mặt (tức là khoảng cách giữa trichion - đường chân tóc và pogonion - điểm nhô nhất của cằm) và chiều rộng khuôn mặt (tức là khoảng cách giữa gò má phải và gò má trái). Bằng cách sử dụng chỉ số này, có thể xác định được cấu trúc chủ yếu của khuôn mặt - còn được gọi là kiểu hình khuôn mặt.
Phạm vi "bình thường" cho chỉ số này được mô tả là 83,40 đến 93,60 và 81,50 đến 90,86 đối với nam và nữ. Các giá trị cao hơn được nhìn thấy ở khuôn mặt hẹp hơn, trong khi các giá trị thấp hơn được nhìn thấy ở khuôn mặt rộng hơn.
Dựa vào chỉ số này có thể áp dụng trong tiêm thẩm mỹ hoặc phẫu thuật để chuyển kiểu khuôn mặt về dạng mong muốn. Ví dụ có thể tiêm má, thái dương một thể tích filler hợp lý để khiến khuôn mặt dài cảm giác khi nhìn vào trở nên tròn hơn. Hoặc hạ bớt gò má trong phẫu thuật cũng có ý nghĩa thay đổi kiểu khuôn mặt.
Cuối cùng, chỉ số hàm trên mặt được định nghĩa là tỷ lệ giữa chiều rộng khuôn mặt(khoảng cách giữa 2 gò má) và chiều rộng hàm dưới (tức là khoảng cách giữa xương hàm phải và xương hàm trái ). Chỉ số này cho phép người đánh giá phân tích hình dạng của hai phần ba dưới của khuôn mặt (ví dụ: hình vuông hoặc hình nón).
Phạm vi "bình thường" cho chỉ số này được mô tả là từ 67,00 đến 74,60 và từ 65,90 đến 74,30 đối với nam và nữ. Các giá trị cao hơn được nhìn thấy ở hàm trên rộng hơn, trong khi các giá trị thấp hơn được nhìn thấy ở hàm dưới hẹp hơn.

Góc mặt và phân tích hình dạng
Độ lồi của khuôn mặt đóng vai trò quan trọng trong nhận thức thẩm mỹ của khuôn mặt. Bằng cách xử lý bề mặt một vùng cụ thể trên khuôn mặt (ví dụ, trong việc làm đầy môi, trũng mắt, rãnh cười, mũi…), diện mạo tổng thể của khuôn mặt cũng được thay đổi. Độ lồi của khuôn mặt có thể được phân tích với sự trợ giúp của hai góc.
Góc lồi của khuôn mặt không bao gồm mũi , còn được gọi là góc đường viền khuôn mặt , trải dài giữa ba điểm sau: glabella ở phía trước, dưới mũi ở giữa và pogonion ở phía sau. Góc này cho phép phân tích khuôn mặt mà không cần phần nhô ra phía trước của đầu mũi và có thể được sử dụng hiệu quả để lập kế hoạch cho các thủ thuật ở giữa khuôn mặt (ví dụ, nâng xương gò má, làm đầy khối lượng giữa khuôn mặt).
Góc lồi toàn bộ khuôn mặt cũng bao gồm phần nhô ra của mũi và kéo dài giữa ba điểm sau: glabella ở phía trước, pronasale ở giữa và pogonion ở phía sau. Góc này cho phép phân tích toàn bộ khuôn mặt bao gồm phần nhô ra phía trước của mũi và có thể hữu ích cho việc lập kế hoạch phẫu thuật mũi.
Trong một mẫu nghiên cứu của người da trắng, cả hai góc đều được báo cáo là sẽ tạo cảm giác dễ chịu nếu các góc lớn hơn 169,20 ± 3,88 độ cho góc đường viền khuôn mặt và 142,67 ± 4,72 độ cho góc lồi khuôn mặt tổng thể.

Khớp cắn đóng vai trò thiết yếu trong nhận thức về vẻ đẹp khuôn mặt, ảnh hưởng nhiều đến góc mặt. Angle phân loại sai khớp cắn là sự không thẳng hàng hoặc mối quan hệ không chính xác giữa các răng thành ba loại chính: Loại I, loại II và loại III.
Khớp cắn chuẩn là khớp cắn đảm bảo các yếu tố sau:
- Có các răng nằm trên một cung răng được sắp xếp một cách đều đặn
- Tương quan răng hai hàm thuộc hạng I Angle: đỉnh múi gần ngoài của răng 6 hàm trên khớp với rãnh ngoài răng 6 hàm dưới, đỉnh răng nanh trên khớp với khe giữa răng nanh và răng hàm nhỏ thứ nhất hàm dưới.
- Điểm tiếp xúc tốt ở vùng răng cửa để tạo độ cắn phủ và độ cắn chìa đúng: Rìa cắn răng cửa hàm trên đưa ra phía trước rìa cắn răng cửa hàm dưới 1-3mm, rìa cắn răng cửa hàm trên che phủ khoảng 1/3 phía rìa cắn của thân răng cửa hàm dưới.
- Toàn bộ múi ngoài vùng răng sau hàm trên phủ ra ngoài so với múi ngoài vùng răng sau hàm dưới, múi trong của vùng răng sau hàm trên khớp với hố rãnh của vùng răng sau hàm dưới
- Đường giữa răng hai hàm trùng với nhau và trùng với đường giữa khuôn mặt.
- Ngoài ra, khớp cắn chuẩn cũng cần đạt được sự cân đối với các bộ phận khác trên khuôn mặt như trán, mắt, mũi, cằm…nhìn ở các góc độ mặt khác nhau.
Sai khớp cắn loại I (khớp cắn trung tính) mô tả mối quan hệ răng hàm bình thường với đường khớp cắn thay đổi giữa xương hàm trên và xương hàm dưới do sự bất thường của từng răng. Hình dạng khuôn mặt không bị thay đổi (trung hàm).
Sai khớp cắn loại II (còn gọi là “cắn ngược”) do xương hàm dưới quá nhỏ hoặc xương hàm trên quá lớn. Khuôn mặt kết quả là lồi với cằm yếu.
Sai khớp cắn loại III (còn gọi là “cắn ngược”) do xương hàm dưới quá to hoặc xương hàm trên quá nhỏ. Khuôn mặt kết quả là lõm với xương hàm dưới nhô ra (nhô ra).
Còn tiếp: Phần 2...
_______________
Thông tin liên hệ
Bác sĩ Đỗ Thành:
- Fanpage: https://www.facebook.com/bacsithanh.vn
- Youtube: https://youtube.com/@bacsithanhvn
- Instagram: https://www.instagram.com/bacsithanh.vn/
- Tiktok: https://www.tiktok.com/@bacsithanh.vn
Delaxi Beauty & Clinic:
_______________
Bài viết thuộc quyền sở hữu của BS. Thành và group Đồng Điệu. Đề nghị không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý của tác giả.
Bài viết độc lập, không được tài trợ bởi bất cứ nhãn hàng nào.
Discussion